Cập nhật ngày 06-04-2006

Quy chế 3676 (Hệ tại chức)

Số tư liệu:3676/GD-ĐT
Ngày ban hành:09-12-1994

QUY CHẾ

VỀ THI, KIỂM TRA HỌC PHẦN, XÉT CẤP CHỨNG CHỈ ĐẠI HỌC ĐẠI CƯƠNG, THI VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP CHO HỆ ĐÀO TẠO TẠI CHỨC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG

(Ban hành kèm theo quyết định số 3676/GD-ĐT ngày 9/12/1994 

của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo)


Chương I
NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG

Điều 1: Đơn vị học trình cơ bản (gọi tắt là đơn vị học trình) là đơn vị được sử dụng để đo lường khối lượng lao động học tập của sinh viên, thông thường bằng 15 tiết lý thuyết.

Một tiết thực hành tuỳ loại hình và tính chất được tính tương đương với từ 1/3 đến 1 tiết lý thuyết. Các tiểu luận, khoá luận, bài tập lớn,... tuỳ theo mức độ chi phí lao động khoa học được tính tương đương với số đơn vị học trình cơ bản.

Hiệu trưởng các trưòng đại học, cao đẳng qui định cụ thể các con số tương đương nói trên.

Điều 2: Học phần là khái niệm qui định một khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, được sử dụng để tạo thuận lợi cho người học tích luỹ dần kiến thức trong quá trình học. Các học phần cần được xây dựng sao cho có thể tích luỹ chúng một cách triêng biệt hoặc lắp ghép chúng lại với nhau để tạo thành một môn học lớn nào đó. Mỗi học phần có khối lượng bằng một hoặc một số không lớn hơn đơn vị học trình cơ bản.

Điều 3: Đối với mỗi sinh viên theo học một hướng chuyên môn nào đó, học phần được xếp thành 3 loại: học phần bắt buộc phải tích luỹ, học phần được tự chọn theo hướng dẫn của nhà trường và học phần tuỳ ý học theo sở thích và điều kiện riêng của từng người.

Điều 4: Khoá học được chia thành các năm học, mỗi năm học có một số môn học được kết cấu thành một số học phần tối thiểu mà sinh viên phải tích luỹ. Đối với các lớp đại học, trừ một số trường có đặc thù riêng về nghề nghiệp, nói chung khoá học được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn I học những kiến thức cơ bản chung, những kiến thức cơ sở của nhóm ngành. Giai đoạn II học các kiến thức cơ sở ngành và chuyên ngành.

Điều 5: Đầu khoá học, nhà trường phải thông báo cho sinh viên biết kế hoạch học tập và chương trình đào tạo toàn khoá; số học phần bắt buộc; số học phần tự chọn; các qui chế học tập, thi kiểm tra. Đầu năm học, phải thông báo cho sinh viên biết: Kế hoạch học tập của năm học; hình thức tổ chức và phương pháp giảng dạy và học tập; chương trình các môn học và các tài liệu học tập cần thiết; hình thức thi và thời gian thi.

Điều 6: Vào đầu năm học, sinh viên muốn học thêm hoặc bớt một số học phần so với chương trình qui định trong năm học đó hoặc có nguyện vọng xin thi trước thời gian qui định, thì phải đăng ký và được Hiệu trưởng cho phép nếu nhà trường có điều kiện thực hiện.

Điều 7: Việc ra đề thi kết thúc học phần, nhóm học phần, đề thi tốt nghiệp được tổ chức theo qui trình của hệ tập trung (do Hội đồng ra đề thi chung của trường thực hiện).
Yêu cầu về chất lượng (mức độ) đề thi ngang bằng với hệ tập trung; được sử dụng trong ngân hàng đề thi chung của trường cho mỗi cấp học, ngành học.

Điều 8: Trong quá trình học tập, sinh viên được tích luỹ dần các kiến thức thông qua các học phần. Kết quả học tập được đánh giá qua lần thi kết thúc học phần (hoặc nhóm học phần).

Điều 9: Những sinh viên sau đây được qui định là sinh viên diện chính sách:

- Anh hùng, thương binh được xếp hạng.

- Người dân tộc ít người, người Kinh đã công tác ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu hẻo lánh từ 3 năm trở lên và đang làm việc ở vùng này.

- Người có thành tích trong lao động, sản xuất và công tác được cấp bằng sáng chế hoặc thưởng huân chương.

Chương II

KIỂM TRA VÀ THI CÁC HỌC PHẦN

Điều 10: Số kỳ thi trong năm học và thời gian cụ thể cho các kỳ thi do Hiệu trưởng qui định. Trong mỗi kỳ thi, từng học phần được tổ chức thi riêng biệt, hoặc nếu cần thiết, mọtt số học phần được tổ chức thi ghép. Thời gian ôn thi học phần là thời gian tự học sau khi kết thúc học phần bố trí xen kẽ giữa các đợt tập trung.

Điều 11: 

a. Sinh viên phải dự thi theo đúng kế hoạch của nhà trường. Sinh viên ốm đau, đi công tác đột xuất hoặc vì lý do đặc biệt khác được nhà trường cho phép vắng thi, được thi bù vào lần sau. Hiệu trưởng qui định về những giấy tờ hợp lệ để xét duyệt cho sinh viên được hoãn thi.

b. Trong mỗi kỳ thi, đối với học phần (hoặc nhóm học phần) xác định, sinh viên chỉ được thi một lần. Nếu thi chưa đạt hoặc thi đạt nhưng chưa thoả mãn, xin thi lấy điểm cao hơn, thì sinh viên được thi lại ở kỳ sau và chỉ được thi lại không qua 02 lần. Tuỳ theo đặc điểm của từng học phần, từng trường mà Hiệu trưởng qui định số lần thi đối với trường hợp thi chưa đạt và là điểm thi lần cuối cùng đối với trường hợp đã đạt nhưng thi lại để lấy điểm cao hơn.

Điều 12: Sinh viên có đủ các điều kiện sau đây thì được dự thi kết thúc học phần (hoặc nhóm học phần):

Làm đầy đủ các bài thực hành (dưới dạng thực tập, thí nghiệm, bài làm, bài tập, xemina,...) và có 2/3 tổng số bài thực hành qui định cho học phần đó đạt điểm trung bình trở lên.

Điều 13: Hình thức thi kết thúc học phần có thể là viết, vấn đáp hoặc thực hành. Hiệu trưởng qui định hình thức và những qui định cụ thể để đảm bảo tính nghiêm túc và công minh của mỗi hình thức thi. Nếu kỳ thi tổ chức tại địa phương (theo hợp đồng mở lớp) phải có xác nhận của đại diện cơ sở (Giám đốc TTGDTX tỉnh hoặc Sở GD-ĐT) là kỳ thi tổ chức nghiêm túc đúng qui chế.

Đề thi được chọn trong ngân hàng đề thi chung của trường (hoặc do Hội đồng ra đề thi chung của trường thực hiện).

Việc hỏi thi và chấm thi do hai cán bộ giảng dạy thực hiện. Bảng điểm thi phải có đủ chữ ký của hai người chấm thi và chủ nhiệm bộ môn hoặc chủ nhiệm khoa duyệt. Điểm thi phải được niêm yết công khai sau mỗi kỳ thi.

Điều 14: Điểm cuối cùng đề đánh giá một học phần (gọi là điểm tổng kết học phần) được tính như sau:

a. Đối với học phần chỉ có lý thuyết thì điểm tổng kết là điểm thi kết thúc học phần.

b. Đối với những học phần có các lý thuyết và thực hành, thì điểm tổng kết tính dựa vào điểm thi kết thúc học phần và điểm kiểm tra phần thực hành.

Hiệu trưởng dựa vào tính chất, đặc điểm từng học phần mà qui định cách tính điểm tổng kết cho từng loại học phần.

Điều 15: Điểm thi và điểm kiểm tra được đánh giá theo thang điểm từ 0 đến 10 và xếp loại như sau:

a. Loại đạt gồm:

- Từ 9 đến 10: Giỏi (A)

- Từ 7 đến cận 9: Khá (B)

- Từ 5 đến cận 7: Trung bình (C)

b. Loại không đạt:

- Từ 4 đến cận 5: Yếu (D)

- Dưới 4: Kém (E)

Điều 16: Kết thúc mỗi năm học, mỗi giai đoạn đào tạo nhà trường căn cứ vào kết quả học tập để phân loại học lực của sinh viên.

Những sinh viên có điểm trung bình chung từ 9 đến 10 xếp loại học lực giỏi.

Những sinh viên có điểm trung bình chung từ 7 đến cận 9 xếp loại học lực khá.

Những sinh viên có điểm trung bình chung từ 4 đến cận 5 xếp loại học lực khá.

Những sinh viên có điểm trung bình chung d ư ới 4 x ếp loại học lực kém.

Đi ều 17: Điểm trung bình chung (của n ăm học, giai đoạn hoặc khoá học) bằng điểm trung bình theo đơn vị học trình của số học phần qui định cộng với phần điểm thưởng tính theo kết quả số học phần học thêm (đã tích luỹ được). Phần điểm thưởng này bằng 1/3 điểm trung bình tính theo đơn vị học trình của số học phần học thêm nhân với tỷ số giữa số đơn vị học trình học thêm và số đơn vị học trình qui định.

Có thể biểu diễn cách tính điểm trung bình trung theo công thức sau:

Trong đó:

ai, ni-điểm của học phần qui định thứ i và hệ số của nó

bj,mj - điểm của học phần học thêm thứ j và hệ số của nó

M- Tổng số học phần học thêm

N- Tổng số học phần qui định

Điều 18: Kết thúc mỗi năm học những sinh viên có khối lượng các học phần thi chưa đạt nhiều hơn 1/3 số đơn vị học trình ứng với số học phần qui định trong năm học đó thì phải tạm dừng để củng cố kiến thức và thi trả nợ ở kỳ tiếp theo.

Chương III
CẤP CHỨNG CHỈ ĐẠI HỌC ĐẠI CƯƠNG VÀ HỌC TIẾP GIAI ĐOẠN II (ĐỐI VỚI HỆ ĐẠI HỌC)

Điều 19: Những sinh viên đủ các điều kiện sau đây thì được cấp chứng chỉ đại học đại cương (ĐHĐC):

- Đã tích luỹ đủ số học phần qui định trong giaI đoạn I.

- Không có học phần nào bị điểm kém (dưới 4) và có điểm trung bình chung của giai đoạn I từ 5,00 trở lên.

Điều 20: Những sinh viên có chứng chỉ ĐHĐC của một ngành đào tạo thì được quyền học tiếp giai đoạn II của ngành đó tại trường cấp chứng chỉ đó.

- Trong trường hợp sinh viên đã có “chứng chỉ ĐHĐC” muốn học tiếp giai đoạn II của một trường khác có ngành đào tạo phù hợp hoặc ngành khác trong trường mình được cấp chứng chỉ ĐHĐC thì tuỳ theo khả năng và yêu cầu của từng trường mà hiệu trưởng đề ra những qui định cụ thể để tuyển chọn dưới hình thức thi tuyển vào giai đoạn II.

Điều 21: Sinh viên không được cấp chứng chỉ ĐHĐC thì không được học tiếp giai đoạn II. Trong thời hạn không quá 4 năm kể từ khi thôi học, sinh viên có điểm trung bình chung của cả giai đoạn I đạt từ 5 điểm trở lên có quyền về trường dự thi lại các học phần bị điểm kém để lấy “chứng chỉ ĐHĐC”.

Chương IV 

THI TỐT NGHIỆP

Điều 22: Sinh viên có đủ các điều kiện sau đây thì được dự thi tốt nghiệp:

a. Về nhân cách: cho đến thời điểm xét điều kiện dự thi không bị kỷ luật đình chỉ học tập, không trong thời gian thi hành án hoặc bị khởi tố (trong trường hợp vi phàm pháp luật).

b. Về học lực:

- có chứng chỉ ĐHĐC phù hợp với ngành nghề đào tạo (đối với đại học)

- Tích luỹ đủ số học phần qui định trong giai đoạn II, đối với đại học và cả khoá học đối với cao đẳng. Đồ án môn học và các học phần cơ bản của ngành học đạt yêu cầu trở lên.

Điều 23:

a. Những sinh viên không đủ điều kiện dự thi tốt nghiệp do nhân cách, trong vòng 3 năm kể từ ngày xét tư cách dự thi tốt nghiệp lần trước nếu được xoá án, xoá kỷ luật, hoặc hết thời gian thi hành án (được cấp có thẩm quyền xác nhận) thì được nhà trường xét cho dự thi tốt nghiệp.

b. Những sinh viên do học lực yếu được học thêm từ một đến hai năm để trả nợ các học phần còn thiếu và tích luỹ đủ (số lần thi các học phần này hay tối đa là 2 lần trong những năm học thêm) thì được dự thi tốt nghiệp

Điều 24: Thi tốt nghiệp có các hình thức sau:

- Làm và bảo vệ luận văn hoặc đồ án tốt nghiệp.

- Thi hai môn chuyên môn mang tính chất tổng hợp.

Tuỳ theo từng trường hợp, từng ngành học mà Hiệu trưởng quyết định chọn môn thi, hình thức thi thích hợp.

a. Hình thức làm và bảo vệ luận văn hoặc đồ án tốt nghiệp được tiến hành như sau:
mỗi sinh viên được nhận một đề tài. Đề tài giao cho sinh viên, do tổ Bộ môn hoặc cơ sở cử người đi học đề xuất, được Chủ nhiệm Khoa trực tiếp uỷ quyền Chủ nhiệm Bộ môn duyệt.

- Trong qua trình làm luận văn (đồ án) tốt nghiệp mỗi sinh viên được một cán bộ hướng dẫn trực tiếp.

- Mỗi luận văn (đồ án) tốt nghiệp sau khi làm phải được một cán bộ chấm sơ bộ, sau đó sinh viên phải trình bày và trả lời các câu hỏi trước Hội đồng chấm tốt nghiệp.

b. Hình thức thi hai môn:

Môn thi, chương trình và nội dung thi do Hiệu trưởng qui định. Tuỳ theo tính chất và yêu cầu của từng ngành học có thể tổ chức thi viết, vấn đáp, thực hành,... hay kết hợp các hình thức trên.

Thời gian thi viết mỗi môn không qua 180 phút.

Thời gian thi vấn đáp không qua 90 phút; trong đó thời gian chuẩn bị không qua 60 phút và trả lời các câu hỏi không qua 30 phút. Câu hỏi thi đối với hình thức thi vấn đáp được ghi trên phiếu thi, sinh viên chỉ được rút phiếu thi một lần.

Bảng điểm chấm thi phải có đủ cả hai giáo viên chấm thi, sau đó có chữ ký xác nhận của Hiệu trưởng hoặc chủ nhiệm khoa, kết quả thi được niêm yết công khai.

c. Dù thi bằng hình thức nào thì chất lượng (mức độ) đề thi tốt nghiệp cũng phải ngang bằng với hệt tập trung.

Điều 25: Công nhận tốt nghiệp:
a. Những sinh viên có các môn thi tốt nghiệp (hoặc luận văn, đồ án) đều đạt từ điểm trung bình trở lên (5 điểm) thì được công nhận tốt nghiệp và được cấp bằng.
b. Những sinh viên thi tốt nghiệp không đạt, sẽ được thi vào kỳ tiếp theo; số lần thi không qua hai lần và chỉ thi lại những môn thi, những phần thi chưa đạt.

Điều 26: Hiệu trưởng ra quyết định thành lập Hội đồng thi và xét công nhận tốt nghiệp, gồm các thành phần sau:

- Chủ tịch là Hiệu trưởng hoặc Hiệu phó

- Thư ký Hội đồng và Chủ nhiệm khoa tại chức hoặc Trưởng phòng QL-ĐT.

- Các uỷ viên: Được chọn trong các Chủ nhiệm khoa hoặc Chủ nhiệm Bộ môn có l iên quan.

Điều 27: Nhiệm vụ của Hội đồng thi và xét công nhận tốt nghiệp

- Duyệt danh sách sinh viên đủ điều kiện dự thi tốt nghiệp

- Tổ chức ra đề thi, tổ chức thi và chấm thi

- Lập danh sách sinh viên đủ điều kiện đề nghị Hiệu trưởng công nhận tốt nghiệp.

Điều 28: Hiệu trưởng căn cứ vào các biên bản của Hội đồng thi và xét công nhận tốt nghiệp để ra quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh thi đạt.

Các trường hợp cá biệt cần xét vớt tốt nghiệp thì phải có công văn xin ý kiến Bộ Giáo dục và Đào tạo, sau khi có ý kiến của Bộ, Hiệu trưởng quyết định công nhận tốt nghiệp.

Chương V 
XỬ LÝ CÁC TRƯỜNG HỢP VI PHẠM KỶ LUẬT

Điều 30: Xử lý kỷ luật đối với cán bộ giáo viên

Cán bộ, giáo viên làm công tác thi, kiểm tra (bao gồm cả khâu: ra đề thi, bảo quản đề thi, in đề thi, coi thi, chấm thi, lên điểm,..) nếu vi phạm những qui định tại qui chế này thì bị xử lý kỷ luật, cụ thể là:

- Làm lộ đề thi

- Không nghiêm túc làm nhiệm vụ để sinh viên quay cóp trong khi thi

- Làm mất hay thất lạc bài thi trong khi thu bài, bảo quản bài,...

- Chấm thi có nhiều sai sót dẫn đến đánh giá không đúng thực chất của bài thi;

- Hướng dẫn sinh viên giải bài trong khi thi

- Gian lận khi chấm, hoặc lên điểm thi,...;

Tuỳ theo mức độ nặng nhẹ của sự vi phạm và tầm quan trọng của các kỳ thi mà xử lý từ hình thức: Khiển trách, cảnh cáo và chuyển đi làm công tác khác, buộc thôi việc, hoặc đề nghị truy tố hình sự.

Điều 31: Xử lý kỷ luật đối với sinh viên:

Sinh viên vi phạm kỷ luật về thi như:

- Nhìn bài người bên cạnh, trao đổi thảo luận trong kỳ thi.

- Mang tài liệu trái phép vào phòng thi, trao đổi tài liệu giấy nháp cho nhau trong khi thi.

- Có hành động gây gổ, làm mất trật tự trong phòng thi hoặc đe doạ trấn áp người tố cáo những vi phạm của mình.

- Đánh cắp đề thi, đánh tráo bài thi, sao chép bài (công trình) của người khác,...

Tuỳ theo mức độ nặng nhẹ mà xử lý kỷ luật từ trừ điểm, xoá bỏ kết quả thi, cảnh cáo, buộc thôi học đến đề nghị truy tố hình sự.

Chương VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 32: Qui chế này có hiệu lực từ ngày và áp dụng cho hệ đào tạo tại chức ở các trường Đại học và cao đẳng (các hình thức đào tạo từ xa sẽ cơ qui chế riêng). Vụ trưởng Vụ Giáo dục thường xuyên có trách nhiệm hướng dẫn, giải thích, kiểm tra việc thực hiện qui chế này.

Hiệu trưởng các trường có hệ đào tạo tại tại chức cụ thể hoá qui chế cho phù hợp với đặc điểm của trường mình, nhưng không đặt ra những qui định mới trái với qui chế này.


BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
Trần Hồng Quân
(Đã ký)
THÔNG BÁO
Kế hoạch kiểm tra tình hình xây dựng và triển khai quy hoạch nhân lực ngành giáo dục giai đoạn..(18-06)
Kế hoạch tập huấn phương pháp nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng cho cán bộ quản lí và giáo..(06-06)
Kế hoạch tổng kết phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” giai..(31-05)
Chỉ thị về việc tăng cường rèn luyện tác phong, thực hiện lề lối công tác của cán bộ Đoàn(29-05)
Giấy phép số 184/GP-BC - Bộ VHTT
Bản quyền thuộc về: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Ghi rõ nguồn http://www.moet.gov.vn khi sử dụng lại nội dung có nguồn từ website này.
Thiết kế bởi Cục Công nghệ thông tin - Bộ Giáo dục và Đào tạo
Sử dụng tốt nhất với FireFox(++), Chrome(++), Safari(+), Opera(+), IE7(-)
Hỗ trợ thiết bị di động.     Liên hệ kỹ thuật
Tại chức, V.bằng 2