Thực trạng giáo dục vùng dân tộc thiểu số rất ít người và kiến nghị, đề xuất

13/08/2019 In bài viết

Các dân tộc thiểu số rất ít người (DTTSRIN) thường cư trú tập trung tại vùng cao, biên giới, thuộc các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Giao thông đi lại khó khăn do độ dốc lớn, vào mùa mưa hầu hết các bản bị cô lập với khu vực xung quanh; điện, nước sinh hoạt còn thiếu; trang thiết bị cơ sở y tế chưa đáp ứng đủ nhu cầu chăm lo sức khỏe của người dân.

Kinh tế chậm phát triển, thu nhập bình quân đầu người thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhận thức của nhân dân vẫn còn nhiều hạn chế, khả năng hội nhập, áp dung khoa học kỹ thuật vào sản xuất chưa đạt hiệu quả. Ngoài ra do dân số ít, hiểu biết khoa học còn nhiều hạn chế, đa số là những người có thân thuộc cùng bản nên còn tạo ra tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết, dẫn đến nhiều học sinh khuyết tật, nhận thức chậm... đã ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đồng bào DTTSRIN.

Trong những năm qua, với mục tiêu tạo điều kiện phát triển về số lượng, nâng cao chất lượng giáo dục cho trẻ em, học sinh, sinh viên các DTTSRIN, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm thông qua nhiều các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định Chính phủ. Trong đó, có Quyết định số 2123/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Phát triển giáo dục đối với các DTTSRIN người giai đoạn 2010-2015; Nghị định số 57/2017/QĐ- TTg ngày 09/5/2017 của Chính phủ, về chính sách ưu tiên tuyển sinh, hỗ trợ học tập đối với trẻ em, học sinh, sinh viên các DTTSRIN ( dưới 10.000 người). Thực hiện các chính sách trên, cơ sở vật chất trường, lớp tại các thôn, bản có học sinh DTTSRIN đã được đầu tư, xây dựng; chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục ở các cơ sở giáo dục có học sinh DTTSRIN được nâng lên. Tỉ lệ huy động trẻ em, học sinh DTTSRIN đến trường tăng, đặc biệt là tỉ lệ huy động trẻ mầm non 5 tuổi DTTSRIN ra lớp; việc tăng tỉ lệ huy động trẻ em, học sinh DTTSRIN đến trường đã góp phần rất lớn trong việc thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở các tỉnh có học sinh DTTSRIN. Học sinh các DTTSRIN được học trong các trường PTDTNT, PTDTBT và được học 2 buổi/ngày. Các nội dung giáo dục đặc thù về văn hóa dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống và hoạt động ngoài giờ lên lớp được tăng cường. Việc dạy Tiếng Việt cho học sinh DTTSRIN đã được chú trọng, chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh DTTSRIN đã được nâng lên.

Tuy nhiên, ở một số địa phương vẫn còn tình trạng học sinh DTTSRIN bỏ học, nguyên nhân là do nhận thức của một bộ phận người dân về việc học tập của con em còn hạn chế, chưa quan tâm tạo điều kiện để con em đi học. Các làng, bản có DTTSRIN cư trú đều xa trung tâm xã và trung tâm huyện nên một số học sinh chưa khắc phục được khó khăn khi xa nhà đi học nên đã bỏ học sau khi học xong cấp tiểu học hoặc THCS. Điều kiện kinh tế của đồng bào DTTSRIN còn khó khăn, đa số là hộ nghèo, hộ cận nghèo; học sinh DTTSRIN cấp THCS, THPT là lao động chính trong gia đình, nên các em phải đi làm để phụ giúp gia đình. Một số phong tục, tập quán của một số DTTSRIN còn lạc hậu ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh. DTTSRIN có số dân ít nên vẫn còn hiện tượng kết hôn giữa những người cùng dòng họ; hiện tượng kết hôn cận huyết thống đã làm tăng tỉ lệ trẻ khuyết tật trong cộng đồng DTTSRIN. Tỷ lệ người DTTSRIN có trình độ đại học, thạc sỹ còn thấp hơn nhiều so với các DTTS khác; trong số 16 DTTSRIN, vẫn còn 03 dân tộc chưa có người học đại học (Mảng, Brâu, Rơ Măm).

Để tiếp tục phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số rất ít người, Chính phủ cần ban hành chính sách hỗ trợ người dân tộc thiểu số trong nhóm dân tộc có nguồn nhân lực thấp (gồm 16 dân tộc có dân số dưới 10.000 người và một số dân tộc: Kháng, Gia Rai, Ba Na, Mông, Thái, Khmer, Raglai, Xtiêng, Khơ Mú, Co, Giẻ Triêng) học cao học, nghiên cứu sinh và được ưu tiên trong tuyển dụng cán bộ công chức, viên chức. Các địa phương có DTTSRIN cần tăng cường công tác truyền thông nâng cao nhận thức về phát triển giáo dục đối với các DTTSRIN; quan tâm việc đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phù hợp với tình hình thực tế của địa phương; thường xuyên giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với trẻ em, học sinh, sinh viên các DTTSRIN; làm tốt công tác quy hoạch nguồn nhân lực DTTSRIN, có chính sách ưu tiên xét tuyển học cử tuyển và đảm bảo bố trí việc làm cho người học cử tuyển sau khi tốt nghiệp.