Gia Lai đẩy mạnh công tác chăm sóc, nuôi dưỡng học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú trên địa bàn tỉnh

16/04/2018 In bài viết

Việc đẩy mạnh công tác chăm sóc, nuôi dưỡng học sinh bán trú trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã góp phần quan trọng trong việc huy động và duy trì HS trong độ tuổi ra lớp, giảm được tỷ lệ HS bỏ học, đi học không chuyên cần; giải quyết được vấn đề HS không phải nghỉ học theo cha mẹ lên nương rẫy khi tới mùa vụ sản xuất, góp phần phát triển giáo dục bền vững và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Gia Lai là một tỉnh biên giới thuộc địa bàn phía Bắc Tây Nguyên có điểm xuất phát thấp so với các vùng miền khác trong cả nước. Toàn tỉnh có 17 huyện, thị xã, thành phố, 222 xã, phường, thị trấn, trong đó có 61 xã (27,47%) thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (khu vực III), 107 xã (48,19%) thuộc khu vực II và 367 thôn đặc biệt khó khăn. Dân số toàn tỉnh: 1.359.877 người với 34 dân tộc sinh sống, dân tộc Kinh chiếm 55,63%, dân tộc thiểu số chiếm 44,37% (trong đó: dân tộc Jrai chiếm 29,35%, dân tộc Bahnar chiếm 11,99% và dân tộc thiểu số khác chiếm 3,03%).

Tỉnh Gia Lai hiện có một hệ thống giáo dục khá hoàn chỉnh, đầy đủ các bậc học, cấp học. Quy mô trường lớp không ngừng phát triển. Toàn tỉnh hiện có 17 trường PTDTNT (02 trường cấp THPT và 15 trường cấp THCS) với 3.839 học sinh (HS). Bên cạnh đó, tỉnh đã thành lập được 25 trường phổ thông dân tộc bán trú (PTDBT) ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, thuộc 8 huyện trong tỉnh: Kbang, Kông Chro, Mang Yang, Krông Pa, Phú Thiện, Chư Sê, Đak Đoa và Đức Cơ (08 trường Tiểu học, 04 trường TH&THCS và 13 trường THCS) với 5.270 HS.


Học sinh Trường PTDTBT Tiểu học Đăk Rong tham gia đá bóng

Chất lượng giáo dục của tỉnh ngày càng được nâng lên rõ rệt, khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn ngày càng được thu hẹp, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở địa phương. Đóng góp vào chất lượng giáo dục của tỉnh Gia Lai nói chung có vai trò quan trọng của các trường PTDTBT trong công tác nuôi dưỡng và chăm sóc học sinh.

Để thực hiện tốt công tác chăm sóc, nuôi dưỡng học sinh trong trường phổ thông dân tộc bán trú, Sở GDĐT Gia Lai đã triển khai thực hiện kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến loại hình trường này. Không chỉ có vậy, Sở GDĐT đã cụ thể hóa các văn bản của cấp trên bằng việc ký ban hành Quyết định số 1392/QĐ-SGDĐT ngày 19/9/2014 quy định về việc “Quy định các nội dung giáo dục đặc thù trong trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh”. Trên cơ sở đó, Sở GDĐT có văn bản chỉ đạo các phòng GDĐT các huyện tiến hành xây dựng, ban hành quy định các nội dung giáo dục đặc thù trong trường PTDTBT và hướng dẫn các trường triển khai thực hiện nghiêm túc quy định này.

Hiện nay, 100% trường PTDTBT đều có nhà ăn, có nhà bếp và tổ chức cho học sinh được ăn 3 bữa/ngày. Bên cạnh chế độ hỗ trợ của Nhà nước, các trường đã làm tốt công tác xã hội hóa, huy động sự đóng góp của phụ huynh, của các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh để cải thiện bữa ăn cho học sinh (đúng theo nghĩa là trường bán trú). 

Định kỳ, các nhà trường tổ chức mời cơ quan y tế đến khám sức khỏe cho học sinh, tổ chức tẩy giun sán, tẩm màn và phun thuốc diệt trừ mầm bệnh, ngăn chặn không để dịch bệnh xảy ra tại trường. Công tác phối hợp với các cơ quan y tế tại địa phương để tuyên truyền giáo dục học sinh ý thức vệ sinh cá nhân, tự chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh được chú trọng.

Học sinh Trường PTDTBT Tiểu học Đăk Rong tham gia làm vệ sinh khu nội trú

Bên cạnh việc quan tâm đặc biệt đến công tác tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho học sinh bán trú, các trường PTDTBT trên địa bàn tỉnh Gia Lai còn tổ chức triển khai tốt các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh: tổ chức tốt đời sống tinh thần, giáo dục văn hóa dân tộc, giáo dục các giá trị sống, kỹ năng sống và tổ chức cho học sinh lao động tăng gia sản xuất nhằm góp phần cải thiện bữa ăn. Điển hình là huyện Kbang, với sự nhiệt tình tâm huyết của cán bộ chuyên môn phòng giáo dục và đào tạo, của cán bộ quản lý các trường PTDTBT đã tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa: tổ chức hội thi kỹ năng sống, khiêu vũ, thể thao, thể dục nhịp điệu (Aerobic) cho HS, nhiều hoạt động giao lưu, văn hóa văn nghệ. Qua các hoạt động, HS vui đến trường, phụ huynh tin tưởng gửi con tới trường, tích cực đóng góp ủng hộ nhà trường. 

Có thể khẳng định rằng, việc đẩy mạnh công tác chăm sóc, nuôi dưỡng học sinh bán trú trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã góp phần quan trọng trong việc huy động và duy trì HS trong độ tuổi ra lớp, giảm được tỷ lệ HS bỏ học, đi học không chuyên cần; giải quyết được vấn đề HS không phải nghỉ học theo cha mẹ lên nương rẫy khi tới mùa vụ sản xuất, góp phần phát triển giáo dục bền vững và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở vùng này.

Ngoài một số kinh nghiệm nêu trên, ngành giáo dục của tỉnh nhận thức rằng: để loại hình trường chuyên biệt này được duy trì hoạt động, phát triển bền vững và ổn định lâu dài thì các cơ quan quản lý giáo dục phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến từng phụ huynh HS, tuyên truyền trong cả hệ thống chính trị để toàn xã hội hiểu rõ về mục đích, mục tiêu giáo dục đào tạo của trường PTDTBT; thấy rõ tính ưu việt của chế độ nhà nước ta trong việc thành lập loại hình trường này ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Từ đó, cả hệ thống chính trị cùng toàn dân chung tay, góp sức cùng với đội ngũ thầy, cô giáo của nhà trường khuyến khích, thu hút HS đến trường, duy trì tốt sĩ số và không bỏ học giữa chừng.

Đồng thời, phải tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục đối với hệ thống trường PTDTBT. Lịch sử ra đời và tồn tại của hệ thống trường PTDTBT cho thấy rằng, công tác xã hội hóa giáo dục quyết định đến sự tồn tại và vận hành của trường PTDTBT và công tác xã hội hóa phải đi trước một bước. Muốn trường PTDTBT vẫn là “trường của dân”, “dân nuôi”, “xã hội nuôi” thì phải làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục. Xuất phát từ thực tế hiện nay, các tỉnh miền núi đa phần vẫn còn nghèo, nên hiện tại, một số trường PTDTBT vẫn còn đang thiếu thốn về nhà ở, nhà ăn, nhà bếp và các công trình vệ sinh, nước sinh hoạt. Vì vậy, cần đẩy mạnh huy động sự đóng góp nhân lực, vật lực từ nhiều nguồn, nhiều chương trình, của nhiều tổ chức xã hội và các doanh nghiệp.

Vụ Giáo dục Dân tộc